Tiểu máu

Định nghĩa 1: Tiểu máu: là tình trạng có HỒNG CẦU trong nước tiểu. Bình thường, nước tiểu không có hồng cầu.

Định nghĩa 2: Niệu đạo: là một phần của hệ tiết niệu, là phần ống bắt đầu từ bàng quang nối ra tới lỗ tiểu bên ngoài.

A. Nhìn

  1. Tiểu máu đại thể: thay đổi màu nước tiểu
  • Màu nước tiểu bình thường: trắng hoặc vàng nhạt
  • Màu nước tiểu trong tiểu máu đại thể: đỏ, nâu đỏ, màu coca (máu chảy bị ứ lại ở bàng quang/ bọng đái và bị oxy hóa đổi màu từ đỏ à coca)
  1. Tiểu máu vi thể: không thay đổi màu nước tiểu một cách rõ rệt, nhưng xét nghiệm nước tiểu có HỒNG CẦU

* VẤN ĐỀ QUAN TRỌNG: Nước tiểu đỏ không phải lúc nào cũng do hồng cầu. Các nguyên nhân sau đây làm cho nước tiểu có màu đỏ hoặc nâu đỏ

  • Tiểu Hemoglobin (tai biến truyền máu…) hoặc tiểu Myoglobin (chấn thương, dập cơ vân nhiều…)
  • Tăng Bilirubin máu: nước tiểu sậm màu
  • Bệnh Porphyria
  • Thực phẩm: củ cải đường đỏ, đại hoàng, màu thực phẩm
  • Thuốc: phổ biến nhất là phenazopyridine, nhưng đôi khi là trà thảo mộc cascara, diphenylhydantoin, methyldopa, phenacetin, phenindione, phenolphthalein, phenothiazine, kháng sinh rifampicin và metronidazole, nitrofurantoin, desferrioxamine
  • Nước tiểu lẫn máu: Gặp ở phụ nữ đang trong chu kỳ kinh nguyệt

B. SINH LÝ

Hồng cầu có thể đi vào nước tiểu từ bất cứ nơi nào dọc theo đường niệu: từ thận, hệ thống ống góp và niệu quản, tuyến tiền liệt, bàng quang và niệu đạo. Ở nữ giới, chảy máu tử cung bình thường hoặc bất thường có thể bị chẩn đoán nhầm là tiểu máu

C. TRIỆU CHỨNG

Tiểu máu được phân làm 3 loại: tiểu máu đầu dòng, tiểu máu cuối dòng, tiểu máu toàn dòng

  • Tiểu máu đầu dòng: đi tiểu thấy màu thay đổi liền ngay từ giọt nước tiểu đầu tiên. Nguyên nhân gây bệnh thường ở niệu đạo
  • Tiểu máu cuối dòng: khi tiểu ra hết nước tiểu mới thấy đổi màu. Nguyên nhân gây bệnh thường ở bàng quang (bọng đái)
  • Tiểu máu toàn dòng: nước tiểu đổi màu ngay từ lúc đầu. Nguyên nhân gây bệnh có thể ở nhiều vị trí, tại thận hoặc ngoài thận.

D. MỘT VÀI NGUYÊN NHÂN TIỂU MÁU THƯỜNG GẶP

  1. Nguyên nhân tại thận
    1. Sỏi thận: là nguyên nhân thường gặp nhất. Thường kèm theo các dấu hiệu khác: có tiền sử sỏi thận, đau vùng thắt lưng, thường xuất hiện tiểu máu sau một lao động nặng, gắng sức.
    2. Lao thận: thường gặp tiểu ra máu vi thể, hay có tổn thương viêm bàng quang kết hợp. Tiểu ra máu cuối dòng. Tiểu lắt nhắt, thường về ban đêm. Đau khi tiểu xong. Tiểu mủ.
    3. Ung thư thận: tiểu ra máu xuất hiện trong 70% trường hợp ở người lớn, nhưng thường không có ở trẻ em. Tiểu ra máu nhiều, tự nhiên, ngắt quãng, không đau, không biến đổi lúc nghĩ ngơi hay lúc vận động (khác với tiểu ra máu do sỏi). Sờ thấy u ở hố chậu phải (ở trẻ em là dấu hiệu độc nhất, ở người lớn là dấu hiệu muộn). Đau. Chụp phim XQuang cho thấy khuyết một hay nhiều đài thận, biến dạng đài – bể thận.
    4. Thận đa nang: đau thắt lưng (50% trường hợp), tiểu ra máu (30% trường hợp), tiểu ra mủ, tăng urê máu, khối u vùng hố thận khi khám. Chụp XQuang cho thấy bể thận và đài thận dài ra, hẹp lại.
    5. Viêm cầu thận cấp: thường có dấu hiệu nhiễm trùng da, viêm họng trước đó. Sốt. Đau vùng thắt lưng 2 bên. Phù mềm, trắng, ấn lõm. Tiểu ít hoặc không có nước tiểu. Huyết áp cao. Tiểu máu vi thể
    6. Bệnh sán máng thận

2. Nguyên nhân tại niệu đạo – tuyến tiền liệt

      1.  Ở nam giới: do phì đại lành tính tuyến tiền liệt hay ung thư/viêm/u xơ tuyến tiền liệt : bệnh nhân có biểu hiện: đi tiểu khó, tiểu lắt nhắt, tiểu đêm nhiều lần, tiểu không hết nước tiểu, tiểu són. Siêu âm thấy tiền liệt tuyến lớn. Riêng ung thư tuyến tiền liệt sẽ xét nghiệm máu có chất PSA tăng cao.
      2. Ở nữ giới: do polyp niệu đạo. Chẩn đoán bằng soi niệu đạo.
  1. Nguyên nhân tại bàng quang
    • Ở nam giới: hay gặp là các u nhú bàng quang, viêm bàng quang
    • Ở phụ nữ trẻ: hay gặp là viêm bàng quang do virút: tiểu khó, tiểu lắt nhắt, tiểu máu. Diễn tiến trong 2 – 3 ngày. Không tái phát.
      Cả 2 giới: sỏi bàng quang (dấu hiệu bàn tay khai), túi thừa (gây tiểu khó, nhiễm trùng tiết niệu mạn tính): phát hiện nhờ siêu âm.
  1. Nguyên nhân do ngoài hệ tiết niệu
  • Các tạng xuất huyết, viêm nội tâm mạc bán cấp Osler, sốt rét, bệnh bạch cầu, kháng độc tố uốn ván, rối loạn đông máu, bệnh giảm tiểu cầu.
  • Thỉnh thoảng tiểu máu xuát hiện sau một vận động mạnh như: bơi lội, đấm bốc, chạy, đá bóng. Đặc biệt VĐV chạy dường dài hay bị tiểu máu (có đến 18% VĐV marathon bị tiểu máu sau khi về đích). Tuy vậy, tiểu máu giảm trong 24 – 48 giờ. Nếu tiểu máu mau hồi phục và không tái phát tự nhiên thì không có nguyên nhân tiềm tàng gây bệnh. Nhưng ở các VĐV (đặc biệt VĐV chạy), xuất hiện protein niệu và hoặc các trụ niệu thỉnh thoảng đi kèm với tiểu máu (hồng cầu biến dạng) gợi ý vị trí chảy máu ở cầu thận
  1. Nguyên nhân do thuốc:
  • Kháng sinh: Penicillin và dẫn chất, cephalosporin và dẫn chất, sunfamid và dẫn chất, polymycin, rifampin. Đặc điểm: tiểu máu thỉnh thoảng, do viêm thận kẽ, xuất hiện trong vòng vài ngày hoặc vài tuần sau khi dùng thuốc, ngưng thuốc thì hết tiểu máu.
  • Giảm đau và kháng viêm: Aspirin, penacetin, aminosalicylic acid…. Đặc điểm: thỉnh thoảng tiểu máu, do hoại tử tủy thận hay nhú thận, xuất hiện sau nhiều tháng hay nhiều năm dùng kết hợp các thuốc giảm đau, hồi phục không hoàn toàn. Riêng nhóm kháng viêm không steroid có đặc điểm của nhóm kháng sinh
  • Lợi tiểu: Furosemide, Ethacrynic Acid, Thiazides. Đặc điểm: giống nhóm kháng sinh
  • Chống đông: Warfarin (Coumadin).
  • Các thuốc khác: Cyclophosphamide, Ifosfamide (gây viêm bàng quang xuất huyết trong 10 – 20% bệnh nhân, mức độ xuất huyết phụ thuộc liều dùng, hồi phục tốt), Danazold (đặc điểm giống nhóm kháng sinh)

E. LƯU Ý

  • Đái ra máu cục giúp loại trừ bệnh lý cầu thận. Bệnh lý cầu thận thường kèm theo phù, tăng huyết áp, hoặc cả hai; các triệu chứng này có thể xuất hiện sau một nhiễm trùng (đặc biệt là nhiễm trùng liên cầu tan huyết nhóm A ở trẻ em).
  • Sỏi tiết niệu thường đau dữ dội, đau quặn thắt. Đỡ đau hơn nhưng đau liên tục có thể là kết quả của nhiễm trùng, ung thư, bệnh thận đa nangviêm cầu thận, và hội chứng đái máu đau hông lưng – Loin pain hematuria syndrome.
  • Các triệu chứng kích thích đường niệu gợi ý có thể viêm bàng quang hoặcviêm tiền liệt tuyến nhưng có thể đi cùng với một số loại ung thư (chủ yếu là ung thư bàng quang và tuyến tiền liệt).
  • Các triệu chứng tắc nghẽn khi tiểu tiện thường gợi ý bệnh tiền liệt tuyến.
  • Một khối trong ổ bụng gợi ý bệnh thận đa nang hoặc ung thư tế bào thận.
  • Tiền sử gia đình bị viêm thận, bệnh hồng cầu hình liềmhoặc mang gen đột biến bệnh hồng cầu hình liềm, hoặc bệnh thận đa nang gợi ý như là một nguyên nhân.
  • Du lịch đến Châu Phi, Trung Đông, hoặc Ấn Độ hoặc thói quen ăn đồ sống cho thấy khả năng mắc bệnh sán máng.
  • Các triệu chứng toàn thân (ví dụ như sốt, ra mồ hôi vào ban đêm, sụt cân) có thể là dấu hiệu của bệnh ung thư hoặc nhiễm trùng bán cấp (ví dụ bệnh lao) hoặc bệnh tự miễn (Bệnh lý mô liên kết).

F. XÉT NGHIỆM

  • Trước khi làm xét nghiệm khác, phải chắc chắn đái máu là thực sự và cần được phân biệt với nước tiểu đỏ bằng xét nghiệm phân tích nước tiểu. Ở phụ nữ bị chảy máu âm đạo, cần lấy mẫu nước tiểu qua ống thông tiểu để tránh bị nhiễm bẩn. Nước tiểu màu đỏ mà không có hồng cầu gợi ý do myoglobin niệu hoặc hemoglobin niệu, bệnh porphyria, hoặc dùng một số loại thuốc hoặc do màu thực phẩm. Nói chung đái máu cần được xác nhận bằng xét nghiệm mẫu nước tiểu thứ 2.
  • Sự xuất hiện của trụ, protein, hoặc các hồng cầu biến dạng về hình thái (có hình dạng bất thường, với màng hồng cầu có gai nhỏ, nhăn nheo gấp nếp, và có các bóng tròn) gợi ý một bệnh lý cầu thận. Bạch cầu niệu hoặc vi khuẩn gợi ý nguyên nhân nhiễm trùng. Tuy nhiên, ở một số bệnh nhân viêm bàng quangvì xét nghiệm nước tiểu cho thấy có nhiều hồng cầu, nên việc nuôi cấy nước tiểu cần được thực hiện. Điều trị bằng kháng sinh khi kết quả nuôi cấy dương tính. Nếu đái máu được giải quyết sau khi điều trị và không có các triệu chứng khác, không cần phải đánh giá thêm nữa đối với bệnh nhân < 50 tuổi, đặc biệt là phụ nữ.
  • Nếu bệnh nhân <35 (bao gồm cả trẻ em) chỉ có đái máu vi thể và không có kết quả xét nghiệm nước tiểu gợi ý bệnh lý cầu thận, không biểu hiện lâm sàng gợi ý nguyên nhân, không có yếu tố nguy cơ ung thư và một nguyên nhân lành tính đã được xác định (ví dụ: nhiễm trùng, chấn thương nhẹ), có thể được theo dõi bằng cách xét nghiệm nước tiểu mỗi 6 đến 12 tháng. Nếu nguyên nhân lành tính không rõ ràng hoặc đái máu là dai dẳng, xét nghiệm được chỉ định (1), bắt đầu bằng siêu âm hoặc CT có cản quang, đôi khi tiếp theo là nội soi bàng quang.
  • Bệnh nhân < 50 tuổi có đái máu đại thể hoặc có triệu chứng toàn thân không giải thích được đòi hỏi phải siêu âm hoặc chụp CT ổ bụng và khung chậu.
  • Nếu xét nghiệm nước tiểu hoặc các triệu chứng lâm sàng gợi ý bệnh lý cầu thận, chức năng thận phải được đánh giá bằng cách đo ure máu, creatinine huyết thanh, và điện giải đồ; xét nghiệm nước tiểu; và định kỳ kiểm tra tỷ lệ protein/creatinine nước tiểu. Đánh giá thêm bệnh lý cầu thận có thể cần phải xét nghiệm huyết thanh học, sinh thiết thậnhoặc cả hai.
  • Tất cả bệnh nhân ≥ 35 tuổi cần được soi bàng quang, cũng như những bệnh nhân < 35 tuổi nhưng có các yếu tố nguy cơ, chẳng hạn như tiền sử gia đình mắc bệnh ung thư hoặc các triệu chứng toàn thân (1). Đàn ông ≥ 50 tuổi yêu cầu xét nghiệm tìm kháng nguyên đặc hiệu cho tuyến tiền liệt; những người có mức độ cao cần đánh giá thêm về ung thư tuyến tiền liệt.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Đái máu đơn độc – Rối loạn di truyền – Cẩm nang MSD – Phiên bản dành cho chuyên gia (msdmanuals.com)

Các nguyên nhân tiểu ra máu (benhvien108.vn)

Đái máu (Đi tiểu ra máu): những điều bạn cần biết – YouMed

Phân loại bệnh đi tiểu ra máu | Vinmec

Tiểu máu- Nguyên nhân và cách điều trị tiểu máu (camnangbenh.com)

Tiếp cận tiểu máu (thaythuocvietnam.vn)

 

Comments Facebook